CIHP.org
Đang tải dữ liệu...
 TIẾNG VIỆT | ENGLISH
Đăng ký   Đăng nhập

 Trang chủ | Giới thiệu CIHP | Thư viện CIHP | Các dự án | Chuyên san | Thuật ngữ | Webmail 
Tìm kiếm
  Giới thiệu CIHP
  Thông Báo
  Tin tức - Sự kiện
  Hoạt động CIHP
  Hoạt động CCIHP
  Dự án
  Ấn phẩm CIHP
  Chuyên san
  Ấn phẩm
  Đăng ký Chuyên san
  Thư viện
  Liên hệ
  Bản đồ site
Liên kết
Đối tác


Trang chủ    Ấn phẩm CIHP    Chuyên san
Lắng nghe những người mại dâm nữ tại Việt Nam: Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tình dục an toàn của họ khi quan hệ với khách hàng và bạn tình, số 12/2006
10:39' PM - Thứ hai, 12/02/2007

Tóm tắt

Nghiên cứu định tính này nhằm đánh giá kiến thức liên quan tới HIV/AIDS, tần số sử dụng và các yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng BCS của những người mại dâm nữ (NMDN) với các khách hàng, và các bạn tình thường xuyên không phải là khách hàng của họ tại Khánh Hoà, một tỉnh phát triển dựa trên tiềm năng về du lịch tại miền trung Việt Nam và cũng là nơi mà hoạt động mại dâm khá phổ biến. Phương Pháp: Chúng tôi thu thập các dữ liệu thông qua các phỏng vấn bán cấu trúc với NMDN gián tiếp (n =16) và trực tiếp (n =9). Kết quả: Mặc dù phần lớn các đối tượng nghiên cứu đã được cung cấp thông tin đầy đủ về cơ chế lây truyền HIV/AIDS, nhưng khoảng 1/3 trong số họ có những niềm tin và suy nghĩ không chính xác về những người có HIV cũng như cơ chế lây truyền HIV từ mẹ sang con. Bao cao su (BCS) không được sử dụng một cách thường xuyên. Nghiên cứu cho thấy có nhiều NMDN trực tiếp, so với NMDN gián tiếp cho biết họ sử dụng BCS với khách hàng trong hầu hết những lần quan hệ tình dục (QHTD), tuy nhiên không có ai trong số họ sử dụng BCS trong tất cả các lần. Với những khách hàng thường xuyên, phần lớn những người tham gia nghiên cứu đều nói rằng họ không sử dụng BCS. Khoảng 1/3 NMDN che dấu việc mại dâm của mình với những người bạn tình thường xuyên của họ, những người thường quyết định việc có sử dụng BCS hay không khi quan hệ tình dục. Những lý do giải thích việc không sử dụng BCS với khách hàng thường được các đối tượng nghiên cứu nhắc đến bao gồm trường hợp khách hàng trả giá cao hơn, khách hàng đòi hỏi QHTD không sử dụng BCS, và việc mang BCS trong người là bằng chứng của hoạt động mại dâm. Đối với những bạn tình thường xuyên, NMDN cho rằng việc không sử dụng BCS thường do: mức độ quen biết giữa hai người, việc sử dụng BCS phụ thuộc vào quyết định của bạn tình, và sử dụng BCS là bằng chứng về tình trạng mại dâm của chính họ. Nghiên cứu không cho thấy có mối quan hệ rõ ràng nào giữa kiến thức về HIV, thời gian hành nghề và những hành vi an toàn tình dục. Kết luận: Đề ra các khuyến nghị nhằm nâng cao tỷ lệ sử dụng BCS trong nhóm NMDN.

Tác giả: Doreen Rosenthal – University of Melbourne

Trần Thị Kim Oanh – Sở Y tế Khánh Hòa

Nếu anh/chị muốn nhận bản in, xin mời gửi yêu cầu về Dự án Encourages. Mọi thông tin về dự án và các chương trình, xin liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ:

Dự án Encourages - Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư Y tế (CIHP)

108 - A12, Ngõ 4/15, Phương Mai, Hà Nội.

Email: encourages@cihp.org

Ban biên tập
Số lượt đọc:  598  -  Cập nhật lần cuối:  12/02/2007 10:55:08 PM
Chuyên san
Hướng dẫn tác giả khi gửi bài viết cho Chuyên san
Ấn phẩm mới
Điểm tin Giới và Tình dục số 1: Nhân dạng giới trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam
Phản ứng của gia đình đối với việc mang thai và mong muốn sinh con khi bị nhiễm HIV ở Việt Nam
Quan hệ tình dục ngoài hôn nhân trong công nhân xây dựng di cư ở Hà Nội, Việt Nam
CHAT
Giới thiệu dự án
Encourages
Giới thiệu dự án
Cordaid
Giới thiệu dự án Giai đoạn 2
Nam and Man
Dự án Nam-Man
 Trang chủ | Giới thiệu | Bản đồ site | Điều khoản sử dụng | Góp ý | Liên hệ